Học nhiều là dành phần lớn quỹ thời gian mỗi ngày để tiếp thu kiến thức, nhưng học nhiều chưa chắc đã giỏi. Bài viết giúp anh chị phân biệt học nhiều tích cực với học nhiều tiêu cực, hiểu lợi ích, rủi ro khi con học quá sức và cách giúp con học thông minh hơn.

Như thế nào là học nhiều?

Học nhiều là việc dành phần lớn thời gian và sức lực trong ngày để tiếp thu kiến thức. Nếu nhìn theo số lượng, đó là học nhiều giờ. Nếu nhìn theo bản chất tư duy, học nhiều chia thành học nhiều tích cực (chủ động, có kế hoạch, hiểu sâu) và học nhiều tiêu cực (nhồi nhét, học vẹt, bị ép buộc). Hiểu đúng hai lớp nghĩa này giúp anh chị biết con đang được nuôi dưỡng hay đang bị vắt kiệt sức.

Con dành bao nhiêu quỹ thời gian cho việc học

Xét về số lượng, học nhiều nghĩa là phần lớn quỹ thời gian trong ngày của con dành cho việc tiếp thu kiến thức. Đó là những tiết học trên lớp, các buổi học thêm, giờ tự học buổi tối, rồi thêm việc đọc tài liệu và làm đề. Với nhiều gia đình, lịch của con còn dày hơn cả lịch làm việc của bố mẹ. Cách hiểu này dễ đo đếm, nhưng nó mới cho biết con học bao lâu, chưa cho biết con học có vào hay không.

Tôi nhớ có một phụ huynh nhờ tôi xem giúp lịch học của bé lớp 7. Sáng bé học trên lớp, chiều học thêm hai môn, tối làm bài đến gần mười một giờ, cuối tuần lại thêm hai buổi luyện đề. Người mẹ tự hào vì con chăm, nhưng cũng bắt đầu lo vì con ít cười và hay than mệt. Chỉ khi viết ra giấy cả tuần học của con, chị mới nhận ra con gần như không có khoảng nào cho riêng mình.

Con dành bao nhiêu quỹ thời gian cho việc học
Học nhiều chưa chắc đã tốt nếu không học đúng cách

Học nhiều về bản chất tư duy: tích cực hay tiêu cực

Về bản chất tư duy, hai đứa trẻ cùng học sáu tiếng mỗi ngày vẫn có thể đang làm hai việc khác hẳn nhau. Học nhiều tích cực là con chủ động, có kế hoạch và đào sâu bản chất để phát triển tư duy. Học nhiều tiêu cực là học nhồi nhét, học vẹt, học đối phó thi cử hoặc học vì bị ép mà không hiểu vì sao phải học. Bảng dưới đây giúp anh chị nhìn ra sự khác biệt nhanh hơn.

Tiêu chíHọc nhiều tích cựcHọc nhiều tiêu cực
Động lựcXuất phát từ sự tò mò và mục tiêu của chính conXuất phát từ nỗi sợ điểm thấp, sợ bị la hoặc bị ép
Cách tiếp thuHiểu nguyên lý, giải thích lại được bằng lời của mìnhHọc thuộc lòng, nhớ máy móc, qua kỳ thi là quên
Kế hoạchCó mục tiêu cho từng buổi, có thời gian nghỉ xen kẽLịch dày kín, ít nghỉ, học cho xong việc
Cảm xúc của conHứng thú, thấy mình tiến bộCăng thẳng, nặng nề, dần chán học
Kết quả lâu dàiKiến thức bền, biết áp dụng vào thực tếKiến thức rời rạc, dễ quên, ngại học

Trong thực tế, ranh giới giữa hai kiểu này mỏng hơn ta tưởng. Có bé đầu năm học nhiều rất tích cực vì thích môn Toán, nhưng đến giữa năm, khi liên tục bị so điểm và thêm lịch học thêm, cùng một lượng giờ học ấy lại thành gánh nặng. Vì vậy điều đáng để ý không phải con học bao nhiêu tiếng, mà là con đang học với tâm thế nào. Anh chị thử hỏi con một câu đơn giản: hôm nay con học được điều gì thú vị? Nếu con kể lại được bằng lời của mình, đó là tín hiệu tốt.

>>>> Xem thêm: 12 Nguyên nhân lười học từ Tâm lý, Thói quen đến Môi trường

Tại sao cần học nhiều?

Con cần học nhiều theo hướng tích cực vì việc này giúp con mở rộng thế giới quan, tăng lợi thế cạnh tranh và rèn được tính kiên trì. Đây đều là những nền tảng con dùng suốt đời chứ không chỉ để thi cử. Tôi sẽ đi qua từng lợi ích, kèm những điều tôi từng thấy ở các bé mình gặp.

Học nhiều giúp mở rộng thế giới quan cho con

Kiến thức nền là chất liệu để con nhìn thế giới. Một đứa trẻ đọc nhiều, học nhiều và biết chút ít về lịch sử, khoa học, đời sống sẽ có nhiều “mảnh ghép” hơn để hiểu những chuyện xảy ra quanh mình. Tôi biết một bé lớp 5 mê đọc sách về vũ trụ, lên lớp 6 bé thấy môn Địa lý và Vật lý dễ vào hơn hẳn nhiều bạn cùng lớp. Có vốn hiểu biết vững, con cũng đỡ hoang mang khi gặp đủ loại thông tin trên mạng, vì con biết liên hệ, so sánh và suy luận có đầu có cuối.

Học nhiều giúp tăng lợi thế cạnh tranh trong tương lai

Xã hội hôm nay thay đổi rất nhanh, công nghệ mới xuất hiện liên tục và nhiều công việc quen thuộc đang đổi cách làm. Người chịu học và học đều đặn sẽ bắt kịp xu thế sớm hơn, nhờ vậy có thêm nhiều lựa chọn trong nghề nghiệp. Với trẻ nhỏ, học nhiều theo hướng tích cực chính là đang tập cho con khả năng học cái mới, thứ mà con dùng suốt đời. Lợi thế của người học nhiều thật sự nằm ở năng lực tự học, chứ không nằm ở việc nhồi cho con thật nhiều chứng chỉ.

Học nhiều giúp rèn luyện tính kiên trì và kỷ luật

Học nhiều hay ít thì học cũng là việc không có đường tắt. Mỗi ngày ngồi vào bàn dù chưa muốn, làm xong một bài khó, quay lại sửa bài sai, đó là cách con tập kỷ luật với chính mình. Thói quen học đều đặn còn giúp con quen với việc tập trung và biết chờ đợi kết quả, thay vì đòi thành quả ngay. Những phẩm chất này về sau theo con vào công việc, vào các mối quan hệ, và cả những lúc con gặp khó khăn.

>>>> Xem thêm: 11 Hậu quả của lười học trong tương lai Ngắn Hạn và Dài Hạn

Học nhiều có phải khi nào cũng tốt?

Không, học nhiều không phải lúc nào cũng tốt. Nó chỉ có lợi khi còn trong sức chịu đựng của con và con vẫn có thời gian nghỉ, ngủ, chơi. Khi vượt ngưỡng, học nhiều thường kéo theo bốn hệ quả: hiệu suất giảm ngược, sức khỏe thể chất bị ảnh hưởng, tinh thần căng thẳng và cuộc sống mất cân bằng.

Nghiên cứu của Galloway, Conner và Pope, công bố năm 2013 trên tạp chí Journal of Experimental Education, khảo sát 4.317 học sinh ở 10 trường trung học có thành tích cao tại Mỹ. Các em làm bài về nhà trung bình hơn 3 tiếng mỗi tối. Nhóm làm bài nhiều giờ hơn có mức gắn bó với trường cao hơn, nhưng cũng chịu nhiều căng thẳng học tập, nhiều vấn đề sức khỏe và ít cân bằng cuộc sống hơn. Đây là khảo sát cho thấy mối liên hệ chứ chưa chứng minh nguyên nhân, nhưng cũng đủ để anh chị nhìn lại lịch học của con.

Học nhiều gây hiệu suất ngược: học trước quên sau

Trong một buổi học, bộ não giống một chiếc bình có sức chứa giới hạn. Khi bị ép học nhiều và nạp quá nhiều thông tin liên tục, con dễ rơi vào trạng thái bão hòa: vẫn ngồi đó nhưng đầu óc không còn tiếp thu, học trước quên sau. Lúc này con thường chuyển sang học thụ động, chép cho xong, đọc cho hết chứ không còn tự hỏi vì sao. Tôi gặp một bạn lớp 9 học đến gần nửa đêm để thuộc công thức, sáng hôm sau vào phòng kiểm tra lại quên mất chính những công thức ấy. Số giờ học tăng lên nhưng lượng kiến thức đọng lại không tăng theo.

Học nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của con

Học nhiều giờ liền, mắt nhìn gần liên tục, lại ít ra ngoài trời thì cơ thể của con thường lên tiếng trước. Khảo sát của Nguyễn Thị Huyền và cộng sự, đăng trên Tạp chí Y học Dự phòng năm 2020, thực hiện trên 7.217 học sinh ở Hà Nội, Yên Bái, Hà Tĩnh và Cần Thơ, ghi nhận 34,8% học sinh bị giảm thị lực khi khám bằng bảng thị lực. Tỷ lệ này tăng dần theo cấp học, từ 23,2% ở tiểu học lên 36,7% ở trung học cơ sở và 43,8% ở trung học phổ thông.

Tất nhiên cận thị (mắt nhìn xa bị mờ) còn liên quan đến di truyền và nhiều yếu tố khác. Theo lãnh đạo Bệnh viện Mắt Trung ương, PGS.TS Phạm Ngọc Đông, giới khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính xác. Tuy vậy, việc học nhiều kèm nhìn gần liên tục là phần cha mẹ có thể chủ động điều chỉnh. Ngồi sai tư thế nhiều giờ cũng khiến lưng và vai gáy của con dễ đau mỏi, về lâu dài có thể ảnh hưởng đến dáng ngồi và cột sống.

Giấc ngủ là thứ thường bị cắt đầu tiên để nhường chỗ cho bài vở. Tuyên bố đồng thuận của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (Paruthi và cộng sự, 2016, Journal of Clinical Sleep Medicine), được Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ ủng hộ và dựa trên việc rà soát 864 bài báo khoa học, khuyến nghị trẻ 6 đến 12 tuổi ngủ 9 đến 12 tiếng, thiếu niên 13 đến 18 tuổi ngủ 8 đến 10 tiếng mỗi ngày. Ngủ thiếu thường xuyên gắn với các vấn đề về chú ý, hành vi và học tập, nên giờ học không nên lấn vào giờ ngủ của con.

Học nhiều có phải khi nào cũng tốt?
Học sai cách dù cố đến mấy cũng chỉ hại nhiều hơn lợi

Học nhiều tạo áp lực và ảnh hưởng đến tinh thần của con

Áp lực thành tích kéo dài, đặc biệt là khi con bị đòi học nhiều hơn sức mình, làm con cạn dần năng lượng. Ban đầu con còn cố, sau đó là mệt mỏi và mất hứng thú với cả những điều từng thích. Nhóm nghiên cứu của Katariina Salmela-Aro (2009, European Journal of Psychological Assessment), khảo sát 1.418 thiếu niên ở 13 trường tại Phần Lan, mô tả trạng thái kiệt sức vì học (giới chuyên môn gọi là burnout) qua ba biểu hiện: mệt mỏi vì việc học, thờ ơ với ý nghĩa của việc học và cảm giác mình không đủ năng lực.

Những em có nhiều biểu hiện thờ ơ và tự thấy mình kém thường có thành tích và mức gắn bó với trường thấp hơn.

Có một phụ huynh từng kể với tôi về bé lớp 5, năm trước đứng đầu lớp, năm nay bỗng nói “con không muốn đi học nữa”. Hóa ra con đã học thêm sáu buổi mỗi tuần và luôn sợ làm mẹ thất vọng. Khi mẹ cắt bớt hai buổi, dành thời gian ngồi nghe con nói, tinh thần của bé nhẹ đi thấy rõ chỉ sau vài tuần. Điều thay đổi trước tiên không phải điểm số, mà là ánh mắt của con.

Học nhiều làm mất cân bằng cuộc sống

Khi cả ngày chỉ có sách vở, con thiếu chỗ để học những điều không có trong sách: cách trò chuyện, cách làm việc nhóm, cách xử lý mâu thuẫn với bạn. Trong chính nghiên cứu ở Stanford nói trên, nhiều em phải bỏ bớt hoạt động ngoại khóa, ít gặp bạn bè và gia đình, không còn thời gian cho sở thích. Những kỹ năng xã hội chỉ hình thành qua trải nghiệm thật, không thể học thuộc từ sách. Một bạn giỏi giải đề nhưng ngại phát biểu và ngại kết bạn sẽ gặp nhiều thiệt thòi khi bước vào môi trường mới.

Học thông minh thay vì học nhiều

Học thông minh là học đúng cách để hiểu sâu và nhớ lâu trong khoảng thời gian hợp lý, thay vì chỉ cộng thêm giờ học. Để chuyển từ học nhiều sang học thông minh, anh chị có thể bắt đầu từ ba thay đổi: đổi cách đo việc học, dùng phương pháp học khoa học và giữ cân bằng cuộc sống cho con. Cả ba đều khá dễ áp dụng ngay trong tuần này.

Thay đổi tư duy: từ học nhiều về số lượng sang học nhiều về chất lượng

Thay vì hỏi “hôm nay con học mấy tiếng”, anh chị thử hỏi “hôm nay con hiểu thêm điều gì và dùng nó vào đâu”. Tư duy số lượng chỉ đếm giờ, còn tư duy chất lượng đếm xem con hiểu sâu đến đâu và ứng dụng được gì. Một bài toán con tự giải thích lại được cho em nghe đáng giá hơn nhiều so với việc chép lại lời giải mười lần. Khi cha mẹ đổi cách hỏi, con cũng dần đổi cách học theo.

Phương pháp học khoa học giúp con không phải học nhiều giờ

Trước hết là cách chia thời gian theo kỹ thuật Pomodoro. Chính tác giả Francesco Cirillo cho biết ông tạo ra kỹ thuật này từ thập niên 1980, khi còn là sinh viên và khó tập trung học. Dạng phổ biến là học tập trung 25 phút rồi nghỉ 5 phút, và anh chị có thể nâng lên khoảng 50 phút cho các con lớn hơn. Tôi từng đồng hành cùng một bé lớp 4, ngồi vào bàn chưa đầy mười phút là lơ đãng nhìn ra cửa sổ.

Khi chia buổi học thành từng đoạn ngắn có hẹn giờ và cho bé đứng dậy vận động nhẹ giữa các đoạn, sau khoảng ba tuần bé ngồi học được lâu hơn hẳn.

Thứ hai là cách ghi nhớ chủ động. Nhóm tác giả John Dunlosky, Katherine Rawson, Elizabeth Marsh, Mitchell Nathan và Daniel Willingham (2013, Psychological Science in the Public Interest) đã xem xét 10 kỹ thuật học và đánh giá tự kiểm tra cùng ôn tập rải đều theo thời gian là hai cách có giá trị cao, còn đọc lại hay tô đậm thì giá trị thấp. Anh chị có thể hướng dẫn con ba cách sau:

  • Chủ động gợi nhớ: con đóng sách lại rồi tự nhắc lại hoặc tự viết ra những gì vừa học, sau đó mới mở sách đối chiếu. Cách này khó hơn đọc lại, nhưng chính sự cố gắng nhớ ấy giúp kiến thức ở lại lâu hơn, và đây cũng là dạng “tự kiểm tra” mà nghiên cứu nói trên đánh giá cao.
  • Lặp lại ngắt quãng: thay vì học dồn một đêm, con ôn lại bài sau một ngày, vài ngày, rồi một tuần. Mỗi lần ôn chỉ cần mười lăm phút nhưng đều đặn, kiến thức sẽ bền hơn nhiều so với học nhồi trước kỳ thi.
  • Sơ đồ tư duy: con đặt ý chính ở giữa trang giấy rồi tách ra các nhánh nhỏ bằng từ khóa và hình vẽ. Cách này đặc biệt hợp với các môn cần nhìn tổng thể như Lịch sử, Sinh học hay Ngữ văn, và giúp con thấy rõ mối liên hệ giữa các ý thay vì nhớ rời rạc.

Cân bằng cuộc sống để học nhiều mà không kiệt sức

Cuối cùng, con cần ngủ đủ giấc theo khuyến nghị đã nêu ở trên và cần vận động mỗi ngày. Hướng dẫn năm 2020 của Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị trẻ từ 5 đến 17 tuổi vận động ở mức vừa đến mạnh trung bình tối thiểu 60 phút mỗi ngày, tính trên cả tuần. Những hoạt động ngoài trời như đạp xe, đá bóng hay chạy bộ giúp cơ thể thư giãn, tinh thần nhẹ nhõm hơn và cho mắt được nghỉ khỏi việc nhìn gần. Một buổi tối cả nhà đi dạo nửa tiếng nhiều khi đáng giá hơn nửa tiếng học thêm trong mệt mỏi.

Cùng Minh Trí Thành giúp con học đủ để thành tài

Muốn con học nhiều mà không nặng nề, điều cần thay đổi đầu tiên thường là cách người lớn đặt kỳ vọng. Qua nhiều năm làm nghề giáo, tôi nhận ra phần lớn chuyện con học nhiều mà vẫn mệt không nằm ở con, mà nằm ở nỗi lo của người lớn. Cha mẹ lo con thua kém nên thêm lịch, thêm lớp, thêm đề, còn con thì im lặng chịu đựng. Tôi cũng là một người mẹ nên hiểu rất rõ nỗi lo ấy, và chỉ khi cha mẹ bình tĩnh hơn, con mới có chỗ để học nhẹ nhàng hơn.

Cùng Minh Trí Thành giúp con học đủ để thành tài
Cô Lanh luôn đề cao việc học cho cả cha mẹ và con trẻ

Nếu anh chị muốn cùng con tìm một nhịp học vừa sức, có thể tham khảo các chương trình tại Minh Trí Thành, nơi Tôi hướng dẫn cha mẹ hiểu cảm xúc của con, thay đổi cách trò chuyện và cách đặt kỳ vọng. Chương trình “Cha mẹ tỉnh thức” là một lựa chọn để anh chị bắt đầu. Với nền tảng nhà giáo và gần 20 năm đồng hành cùng phụ huynh và các em nhỏ, tôi mong mỗi gia đình tìm được cách để con vừa học tốt vừa giữ được niềm vui học.

Kết luận

Học nhiều chỉ có giá trị khi con hiểu bài, ngủ đủ và còn niềm vui học. Anh chị hãy đo việc học bằng mức độ hiểu thay vì số giờ, chia nhỏ thời gian học, ôn chủ động và giữ nhịp vận động mỗi ngày. Học thông minh thay vì học nhiều là món quà bền lâu cho con.

Câu hỏi thường gặp về học nhiều

Con nên học nhiều bao nhiêu tiếng mỗi ngày là hợp lý?

Không có một con số chung cho mọi trẻ, vì mỗi bé có độ tuổi, sức chịu đựng và nhịp học khác nhau. Anh chị có thể dùng hai mốc để tự kiểm tra: giờ học không được lấn vào giờ ngủ theo khuyến nghị theo độ tuổi, và con vẫn còn thời gian chơi, vận động mỗi ngày. Nếu con học nhiều mà bắt đầu mệt mỏi, cáu gắt hoặc sợ đến bàn học thì lịch học đang quá tải.

Làm sao nhận biết con học nhiều nhưng không hiệu quả?

Có vài dấu hiệu dễ thấy: con ngồi lâu nhưng làm bài chậm, học xong hôm trước hôm sau quên, chỉ học thuộc mà không giải thích lại được, hoặc than đau đầu, mỏi mắt và thiếu ngủ. Anh chị thử nhờ con giảng lại bài vừa học cho mình nghe. Nếu con lúng túng, cách học cần được điều chỉnh chứ chưa cần học thêm.

Học nhiều có làm con bị cận thị không?

Cận thị có nhiều nguyên nhân, trong đó có di truyền, và giới chuyên môn chưa xác định được nguyên nhân chính xác. Tuy nhiên, nhìn gần liên tục trong nhiều giờ và ít ra ngoài trời là những thói quen cha mẹ có thể điều chỉnh. Anh chị nên cho con nghỉ mắt sau mỗi đợt học, tăng thời gian ngoài trời và đưa con đi khám mắt định kỳ.

Làm thế nào để con không cần học nhiều giờ mà vẫn nhớ lâu?

Anh chị hướng dẫn con chia buổi học thành từng đoạn ngắn có nghỉ xen kẽ, tự nhắc lại bài mà không nhìn sách và ôn lại theo các mốc cách quãng thay vì học dồn. Con cũng nên tập giải thích bài cho người khác nghe hoặc vẽ sơ đồ tư duy. Khi hiểu bản chất, con cần ít thời gian hơn để nhớ.

Cha mẹ nên làm gì khi con bị áp lực vì học nhiều?

Trước hết anh chị hãy lắng nghe con mà chưa vội khuyên hay so sánh, để con cảm thấy mình được thấu hiểu. Sau đó cùng con xem lại lịch học, cắt bớt những phần không cần thiết và bảo đảm con ngủ đủ, có thời gian vận động. Nếu tình trạng kéo dài, anh chị có thể trao đổi với giáo viên hoặc tham khảo các chương trình dành cho cha mẹ tại Minh Trí Thành để cùng con tìm cách thay đổi tích cực.

Tài liệu tham khảo

  1. Stanford Report (2014). Stanford research shows pitfalls of homework. https://news.stanford.edu/stories/2014/03/too-much-homework-031014
  2. Nguyễn Thị Huyền và cộng sự (2020). Thực trạng cận thị của học sinh tại một số tỉnh ở Việt Nam năm 2019. Tạp chí Y học Dự phòng, 30(4 Phụ bản), 139 đến 146. https://www.researchgate.net/publication/351175293_Thuc_trang_can_thi_cua_hoc_sinh_tai_mot_so_tinh_o_Viet_Nam_nam_2019
  3. Paruthi, S. và cộng sự (2016). Recommended Amount of Sleep for Pediatric Populations: A Consensus Statement of the American Academy of Sleep Medicine. Journal of Clinical Sleep Medicine, 12(6), 785 đến 786. https://jcsm.aasm.org/doi/10.5664/jcsm.5866

5/5 - (1 bình chọn)

1 bình luận về “Học nhiều có tốt không? 3 Cách học nhiều mà không mệt”

  1. Pingback: Học nhiều mà điểm vẫn thấp: 4 Nguyên nhân và cách khắc phục

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *